CÔNG TY CP DỊCH VỤ VỆ SINH CÔNG NGHIỆP NHÀ SẠCH HOÀN MỸ

Địa chỉ: 613 Nguyễn Hoàng Tôn - Tây Hồ - Hà Nội
Tel: (04)66 55 22 96
Fax: (04)37 50 27 78
Hotline: 0989.002.883
Email: nhasachhoanmy24h@gmail.com


HÃY LIÊN HỆ NGAY CHO CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN DỊCH VỤ MỘT CÁCH TỐT NHẤT.

 Dịch vụ vệ sinh công nghiệp là sự kết hợp giữa vệ sinh thông thường và vệ sinh hiện đại, sự kết hợp hài hào giữa máy móc và các thiết bị chuyên dụng của dịch vụ vệ sinh nhằm mục đích tạo ra môi tường trong sạch và không gian làm việc thoáng mát.

Dịch vụ vệ sinh công nghiệp được pháp luật quy định rõ ràng, mọi người chấp nhận và xem đây là một nghề trong xã hội hiện nay.

Mục đích vệ sinh công nghiệp là làm sạch về môi trường sống, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nơi công cộng, nhà ở, các công trình sau xậy dựng …

Ngày càng có nhiều công trình mọc lên với tốc độ chóng mặt đồng nghĩa với ngành dịch vụ vệ sinh công nghiệp phát triển theo nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

Lợi ích mà Dịch vụ vệ sinh công nghiệp mang lại là giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện môi trường sống, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trong xã hội hiện đại bây giờ dịch vụ vệ sinh công nghiệp ngày càng phát triển góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động và xã hội.

Phát triển ngành dịch vụ vệ sinh công nghiệp tốt ở nước ta là tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư, góp phần nâng cao trình độ tri thức trong nước.

Vệ sinh công nghiệp là ngành nghề tồn tại song song với các ngành nghề khác : Xây dựng, sản xuất kinh doanh, trường học, y tế...

Chính vì lẽ đó CÔNG TY DỊCH VỤ VỆ SINH CÔNG NGHIỆP HOÀN MỸ đã phát triển và nâng cao chất lượng của dịch vụ được coi là tốt nhất hiện nay qua cách quản lý, đội ngũ nhân viên lành nghề, trang thiết bị máy móc, hóa chất chuyên dụng. Nhằm đem lại sự thoả mãn ngày càng cao của khách hàng.
Bài mới đăng »
Bagikan kepada teman!

Cần tăng cường công tác vệ sinh môi trường ở bãi tắm Xuân Hải

Nhiều người dân nêu ý kiến, chỉ cần BQL chú ý thu dọn và nhắc nhở người dân thì những cảnh mất vệ sinh môi trường ở bãi tắm chỉ một sớm một chiều là giải quyết xong.

Bãi tắm Xuân Hải xã Thạch Bằng (Lộc Hà) mới đi vào khai thác mấy năm gần đây nhưng đã được du khách, nhất là du khách trong tỉnh quan tâm tìm đến...
vệ sinh môi trường
Ưu điểm nổi trội của bãi tắm là gần trung tâm (cách TP Hà Tĩnh 13 km), đường sá cơ bản thuận tiện, hải sản tươi, đa dạng, giá cả phải chăng. Đặc biệt, bãi tắm khá phẳng, thoải, không có vực xoáy gần bờ, rất phù hợp với người lớn tuổi, phụ nữ và trẻ em. Gần đây, bờ biển đã được lát gạch và đổ bê tông thành khuôn viên, lối đi xuống biển… tạo dáng dấp khá hiện đại. Nhiều gia đình cán bộ, công chức ở Hà Tĩnh không có nhu cầu lưu trú qua đêm đã chọn bãi tắm Xuân Hải là một điểm đến trong mùa hè này.

Tuy vậy, do gần cửa sông (Cửa Sót cách đó không xa) nên sau mỗi trận mưa lớn, bèo và các loại cành khô củi mục dạt vào, tấp lên bãi tắm Xuân Hải khá nhiều. Cùng đó, trâu bò của người dân thả rông đã làm ô nhiễm môi trường trên bờ biển khiến không ít du khách ái ngại trước cảnh tượng nhếch nhác, bẩn thỉu. Không ít du khách ái ngại trước cảnh tượng nhếch nhác, bẩn thỉu ở bãi biển Xuân Hải trong thời gian gần đây

Nhiều người dân nêu ý kiến, chỉ cần BQL chú ý thu dọn và nhắc nhở người dân thì những cảnh mất vệ sinh môi trường ở bãi tắm chỉ một sớm một chiều là giải quyết xong. Thêm vào đó, cần có phao và cờ hiệu báo mức nước để du khách tránh ra xa nguy hiểm. Đáng tiếc là điều này chưa được quan tâm khiến nhiều du khách đã một lần đến là không muốn quay lại.

Rất mong huyện Lộc Hà, BQL bãi tắm Xuân Hải lưu tâm đến vấn đề trên, có phương án giải quyết kịp thời trong mùa du lịch biển 2013 để thu hút, tạo ấn tượng tốt cho du khách.
comments | | Xem tiếp...

Nghị định về vệ sinh an toàn lao động

CHÍNH PHỦ
Số: 45/2013/NĐ-CP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2013                          

NGHỊ ĐỊNH
Quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc,
thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động
_______________________
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 18 tháng 6 năm 2012;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động,
Chương I
PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Nghị định này được áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 của Bộ luật lao động.
2. Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại Nghị định này được áp dụng đối với các đối tượng sau:
a) Người lao động Việt Nam; người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; người học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động;
b) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình; cá nhân có liên quan.
Chương II
THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
Mục 1
THỜI GIỜ LÀM VIỆC
Điều 3. Thời giờ được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương
1. Nghỉ trong giờ làm việc theo quy định tại Điều 5 Nghị định này.
2. Nghỉ giải lao theo tính chất của công việc.
3. Nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong định mức lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người.
4. Thời giờ nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
5. Nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với lao động nữ trong thời gian hành kinh.
6. Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động.
7. Thời giờ học tập, huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động.
8. Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc được người sử dụng lao động đồng ý.
9. Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do công đoàn cấp trên triệu tập cán bộ công đoàn không chuyên trách theo quy định của pháp luật về công đoàn.
10. Thời giờ làm việc được rút ngắn mỗi ngày ít nhất 01 giờ đối với người lao động cao tuổi trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu.
Điều 4. Làm thêm giờ
1. Số giờ làm thêm trong ngày được quy định như sau:
a) Không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; khi áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày;
b) Không quá 12 giờ trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần.
2. Việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm được quy định như sau:
a) Các trường hợp sau đây được tổ chức làm thêm:
- Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản;
- Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
- Các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn.
b) Khi tổ chức làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quản lý nhà nước về lao động tại địa phương.
3. Thời gian nghỉ bù theo Điểm c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật lao động được quy định như sau:
a) Sau mỗi đợt làm thêm tối đa 07 ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động nghỉ bù số thời gian đã không được nghỉ;
b) Trường hợp không bố trí nghỉ bù đủ số thời gian thì phải trả lương làm thêm giờ theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật lao động.
Mục 2
THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
Điều 5. Nghỉ trong giờ làm việc
1. Thời gian nghỉ giữa giờ làm việc quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 108 của Bộ luật lao động được coi là thời giờ làm việc áp dụng trong ca liên tục 08 giờ trong điều kiện bình thường hoặc 06 giờ trong trường hợp được rút ngắn. Thời điểm nghỉ cụ thể do người sử dụng lao động quyết định.
2. Ngoài thời giờ nghỉ ngơi trong ca làm việc bình thường được quy định tại Khoản 1 Điều này, người lao động làm việc trong ngày từ 10 giờ trở lên kể cả số giờ làm thêm thì được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc.
Điều 6. Thời gian được coi là thời gian làm việc của người lao động để tính số ngày nghỉ hằng năm
1. Thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động theo cam kết trong hợp đồng học nghề, tập nghề.
2. Thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động.
3. Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật lao động.
4. Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng.
5. Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.
6. Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng.
7. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
8. Thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn.
9. Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.
10. Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc.
11. Thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.
Điều 7. Cách tính số ngày nghỉ hằng năm đối với trường hợp làm không đủ năm
Số ngày nghỉ hằng năm theo Khoản 2 Điều 114 của Bộ luật lao động được tính như sau: lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm; kết quả phép tính lấy tròn số hàng đơn vị, nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì làm tròn lên 01 đơn vị.
Điều 8. Nghỉ Tết Âm lịch
1. Thời gian nghỉ Tết Âm lịch theo Khoản 1 Điều 115 của Bộ luật lao động do người sử dụng lao động lựa chọn 01 ngày cuối năm và 04 ngày đầu năm âm lịch hoặc 02 ngày cuối năm và 03 ngày đầu năm âm lịch.
2. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo phương án nghỉ Tết Âm lịch cho người lao động trước khi thực hiện ít nhất 30 ngày.
Chương III
AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG
MỤC 1
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG
Điều 9. Xây dựng Chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm xây dựng Chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo từng giai đoạn 05 năm, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
2. Hằng năm, căn cứ Chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động đã được phê duyệt, dự toán của các Bộ, cơ quan và địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổng hợp dự toán kinh phí thực hiện Chương trình cùng với dự toán ngân sách nhà nước gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình cơ quan có thẩm quyền quyết định.
Điều 10. Lập phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động
1. Khi xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo công trình, cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động thì chủ đầu tư, người sử dụng lao động phải lập phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường, trình cơ quan có thẩm quyền cho phép xây dựng mới, mở rộng, cải tạo công trình, cơ sở.
2. Phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động phải có các nội dung chính sau đây:
a) Địa điểm, quy mô công trình, cơ sở phải nêu rõ khoảng cách từ công trình, cơ sở đến khu dân cư và các công trình khác;
b) Liệt kê, mô tả chi tiết các hạng mục trong công trình, cơ sở;
c) Nêu rõ những yếu tố nguy hiểm, có hại, sự cố có thể phát sinh trong quá trình hoạt động;
d) Các biện pháp cụ thể nhằm loại trừ, giảm thiểu các yếu tố nguy hiểm, có hại; phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp.
Điều 11. Sử dụng người lao động cao tuổi làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
1. Việc sử dụng người lao động cao tuổi làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lao động cao tuổi có kinh nghiệm, tay nghề cao với thâm niên nghề nghiệp từ đủ 15 năm trở lên; được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ nghề hoặc được công nhận là nghệ nhân theo quy định của pháp luật;
b) Người lao động cao tuổi có đủ sức khỏe theo tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành đối với nghề, công việc;
c) Sử dụng có tính thời điểm; không quá 05 năm đối với từng người lao động;
d) Phải khám sức khỏe định kỳ ít nhất 02 lần trong một năm;
đ) Có ít nhất 01 người lao động không phải là người lao động cao tuổi cùng làm việc.
2. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều này, Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định chức danh nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và các điều kiện cụ thể đối với từng trường hợp đặc biệt sử dụng người lao động cao tuổi trong lĩnh vực, ngành, nghề thuộc thẩm quyền quản lý.
Mục 2
TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP
Điều 12. Tai nạn lao động và sự cố nghiêm trọng
1. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tấm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc.
2. Tai nạn được coi là tai nạn lao động là tai nạn xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý khi người lao động đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở.
3. Tai nạn lao động được phân loại như sau:
a) Tai nạn lao động chết người;
b) Tai nạn lao động nặng;
c) Tai nạn lao động nhẹ.
4. Sự cố nghiêm trọng là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động (không bao gồm tai nạn lao động) gây thiệt hại lớn về tài sản của người lao động, người sử dụng lao động.
Điều 13. Khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo, bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố nghiêm trọng
1. Việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, sự cố nghiêm trọng được quy định như sau:
a) Người sử dụng lao động có trách nhiệm khai báo ngay với Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi xảy ra tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động nặng làm bị thương từ 02 người lao động trở lên và sự cố nghiêm trọng;
b) Người sử dụng lao động có trách nhiệm điều tra tai nạn lao động nhẹ, tai nạn lao động nặng làm bị thương 01 người lao động, sự cố nghiêm trọng;
c) Thanh tra lao động có trách nhiệm điều tra tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động nặng làm bị thương từ 02 người lao động trở lên; điều tra lại tai nạn lao động, sự cố nghiêm trọng đã được người sử dụng lao động điều tra nếu có khiếu nại, tố cáo hoặc khi xét thấy cần thiết;
d) Trong quá trình điều tra tai nạn lao động, sự cố nghiêm trọng mà phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Thanh tra lao động, người sử dụng lao động phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đề nghị chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự;
đ) Người sử dụng lao động phải mở sổ thống kê và định kỳ 6 tháng, hằng năm báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động.
2. Việc thống kê, báo cáo bệnh nghề nghiệp được quy định như sau:
a) Người sử dụng lao động phải lập hồ sơ sức khỏe đối với người lao động bị bệnh nghề nghiệp và định kỳ 6 tháng, hằng năm báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về y tế, lao động;
b) Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết thủ tục, trình tự thống kê, báo cáo bệnh nghề nghiệp.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Điều 14. Kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại
Đối với nơi làm việc có các yếu tố nguy hiểm, có hại có nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:
1. Kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại; đề ra các biện pháp loại trừ, giảm thiểu các mối nguy hiểm, có hại, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động;
2. Tổ chức đo lường các yếu tố có hại ít nhất 01 lần trong một năm; lập hồ sơ lưu giữ và theo dõi theo quy định pháp luật;
3. Trang bị phương tiện kỹ thuật, y tế để bảo đảm ứng cứu, sơ cứu kịp thời khi xảy ra sự cố, tai nạn lao động;
4. Xây dựng phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp và tổ chức đội cấp cứu tại chỗ theo quy định pháp luật; đội cấp cứu phải được huấn luyện kỹ năng và thường xuyên tập luyện.
Mục 3
KIỂM ĐỊNH KỸ THUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG
Điều 15. Tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
1. Kiểm định kỹ thuật an toàn lao động là hoạt động kỹ thuật thực hiện theo quy trình nhất định (sau đây gọi là quy trình kiểm định) nhằm đánh giá và xác nhận sự phù hợp về tình trạng kỹ thuật an toàn của đối tượng kiểm định theo quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật.
2. Tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động là đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động.
Điều 16. Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
1. Có giấy đăng ký kinh doanh hoặc có quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền.
2. Có cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng các yêu cầu kiểm định của từng đối tượng kiểm định.
3. Có đủ kiểm định viên đáp ứng các yêu cầu kiểm định của từng đối tượng kiểm định.
4. Có tổ chức phù hợp để thực hiện hoạt động kiểm định.
Điều 17. Hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại và bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
1. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;
b) Tài liệu chứng minh năng lực phù hợp với điều kiện quy định tại Điều 16 Nghị định này.
2. Hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động được quy định như sau:
a) Ít nhất 03 tháng trước khi hết thời hạn quy định trong Giấy chứng nhận, tổ chức có nhu cầu tiếp tục hoạt động dịch vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động phải gửi hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận. Hồ sơ bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận;
- Giấy chứng nhận đã được cấp;
- Báo cáo tình hình hoạt động của tổ chức trong thời gian được cấp Giấy chứng nhận;
- Tài liệu chứng minh năng lực phù hợp với điều kiện quy định tại Điều 16 Nghị định này.
b) Trường hợp Giấy chứng nhận bị mất, bị hỏng, tổ chức có nhu cầu tiếp tục hoạt động dịch vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động phải gửi hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận. Hồ sơ bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận;
- Bản sao hoặc bản gốc Giấy chứng nhận đã được cấp (nếu có).
3. Hồ sơ đề nghị bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động bao gồm:
a) Đơn đề nghị bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận;
b) Giấy chứng nhận đã được cấp;
c) Các tài liệu chứng minh yêu cầu bổ sung, sửa đổi.
4. Thủ tục cấp, cấp lại, bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động được quy định như sau:
a) Tổ chức có nhu cầu cấp, cấp lại, bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận phải gửi cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 18 Nghị định này hồ sơ đăng ký cấp, cấp lại, bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận; đồng thời nộp phí, lệ phí liên quan đến việc đánh giá điều kiện hoạt động, cấp, cấp lại, bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận;
b) Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 18 Nghị định này có trách nhiệm cấp, cấp lại, bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận; trường hợp không cấp, cấp lại, bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 18. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
1. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động được quy định như sau:
a) Bộ Công Thương: vật liệu nổ công nghiệp; hệ thống thủy lực nâng cánh phai thủy điện; máy và thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động chỉ sử dụng cho khai thác mỏ trong hầm lò;
b) Bộ Giao thông vận tải: các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động để vận hành động cơ của phương tiện giao thông vận tải đường bộ, đường thủy nội địa, hàng hải, đường sắt, hàng không (không bao gồm các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động được chuyên chở hoặc được lắp đặt trên phương tiện vận tải để làm việc trên các công trường, kho hàng, nơi sản xuất, kinh doanh); thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động chỉ phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí trên biển; hệ thống đường ống dẫn dầu, khí đốt trên biển;
c) Bộ Khoa học và Công nghệ: lò phản ứng hạt nhân; buồng thử nghiệm tương thích điện từ; các loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động làm việc trong lưới điện cao áp; các loại máy, thiết bị chứa nguồn phóng xạ, bức xạ;
d) Bộ Xây dựng: hệ thống giàn giáo; hệ thống cốp pha trượt; thanh, cột chống tổ hợp;
đ) Bộ Thông tin và Truyền thông: ăng ten bức xạ cao tần; máy khuếch đại công suất cao tần trong phát thanh, truyền hình;
e) Bộ Quốc phòng: các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động chuyên sử dụng cho mục đích quốc phòng, đặc thù quân sự;
g) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, trừ các loại máy, thiết bị, vật tư quy định tại Điểm a, b, c, d, đ và e Khoản này.
2. Cơ quan cấp Giấy chứng nhận quy định tại Khoản 1 Điều này là cơ quan có thẩm quyền cấp lại, bổ sung, sửa đổi, thu hồi, đình chỉ Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động.
Điều 19. Thời hạn của Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
1. Thời hạn của Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động là 03 năm đối với Giấy chứng nhận cấp mới hoặc cấp lại khi Giấy chứng nhận hết hạn.
2. Thời hạn của Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động được cấp lại do bị mất, bị hỏng là thời gian còn lại của Giấy chứng nhận đã được cấp.
Điều 20. Đình chỉ hoạt động của tổ chức kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
Tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động bị đình chỉ hoạt động kiểm định trong các trường hợp sau đây:
1. Không đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 16 Nghị định này;
2. Liên tục trong 18 tháng không báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động kiểm định theo quy định pháp luật.
Điều 21. Thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
1. Hết thời hạn đình chỉ hoạt động kiểm định mà không khắc phục được các nguyên nhân bị đình chỉ.
2. Bị xử phạt vi phạm hành chính 03 lần đối với 01 hành vi hoặc 03 lần trong một năm.
3. Tiến hành hoạt động kiểm định trong thời gian bị đình chỉ hoạt động.
4. Giả mạo hoặc khai man các tài liệu trong hồ sơ cấp, cấp lại, bổ sung, sửa đổi Giấy chứng nhận.
5. Sửa chữa nội dung Giấy chứng nhận.
Điều 22. Quyền và trách nhiệm của tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
1. Tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động có quyền:
a) Thực hiện hoạt động kiểm định theo hợp đồng cung cấp dịch vụ kiểm định;
b) Được thu phí, giá dịch vụ theo quy định của pháp luật;
c) Kiến nghị, khiếu nại, tố cáo hành vi cản trở hoạt động kiểm định;
d) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có đối tượng đề nghị được kiểm định cung cấp các tài liệu, thông tin phục vụ hoạt động kiểm định;
đ) Có quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động có trách nhiệm:
a) Cung cấp dịch vụ kiểm định trong phạm vi, đối tượng được quy định trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động;
b) Không được từ chối cung cấp dịch vụ kiểm định mà không có lý do chính đáng;
c) Thực hiện kiểm định theo quy trình kiểm định;
d) Chịu trách nhiệm về kết quả kiểm định, bồi thường thiệt hại do hoạt động kiểm định gây ra theo quy định của pháp luật; phải thu hồi kết quả kiểm định đã cấp khi phát hiện sai phạm;
đ) Báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động kiểm định theo quy định của pháp luật;
e) Lưu giữ hồ sơ kiểm định;
g) Có trách nhiệm khác theo quy định pháp luật.
Điều 23. Trách nhiệm sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động
Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình và cá nhân sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động có trách nhiệm:
1. Ký hợp đồng với tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động để kiểm định lần đầu trước khi đưa vào sử dụng hoặc kiểm định định kỳ trong quá trình sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động;
2. Khai báo trước khi đưa vào sử dụng, báo cáo việc kiểm định các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động với cơ quan có thẩm quyền.
Điều 24. Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm:
1. Đề xuất các loại máy, thiết bị, vật tư thuộc lĩnh vực quản lý đưa vào danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động để Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành;
2. Ban hành các quy trình kiểm định các đối tượng thuộc thẩm quyền quy định tại Điều 18 Nghị định này, sau khi có ý kiến bằng văn bản của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
3. Quy định chi tiết các Điều 16, Điều 17 và Điều 20 Nghị định này; điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi Chứng chỉ kiểm định viên kỹ thuật an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý;
4. Tổ chức thanh tra, kiểm tra hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động thuộc thẩm quyền quản lý;
5. Định kỳ hằng năm hoặc đột xuất, tổng hợp báo cáo gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động.
Chương IV
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG
Điều 25. Quản lý nhà nước về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động, có trách nhiệm:
a) Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động;
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan lập Hồ sơ quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo thông lệ quốc tế;
c) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động;
d) Hướng dẫn và quản lý việc tổ chức huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động;
đ) Hướng dẫn thực hiện công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã có hoạt động sản xuất kinh doanh;
e) Đưa nội dung an toàn lao động, vệ sinh lao động vào chương trình giảng dạy trong các trường và cơ sở dạy nghề;
g) Thực hiện điều tra tai nạn lao động; phối hợp với Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra, xử lý tai nạn lao động có dấu hiệu tội phạm;
h) Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động;
i) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động.
2. Bộ Y tế có trách nhiệm:
a) Xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản về chăm sóc sức khoẻ cho người lao động; tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại nghề, công việc;
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng, ban hành danh mục các loại bệnh nghề nghiệp;
c) Phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn các biện pháp bảo đảm vệ sinh lao động khi xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo các công trình, cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh lao động thuộc thẩm quyền;
d) Hướng dẫn việc tổ chức đội cấp cứu tại chỗ; nội dung tập huấn về sơ cứu, cấp cứu tại nơi làm việc;
đ) Hướng dẫn và quản lý việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sức khỏe khi tuyển dụng, khám bệnh nghề nghiệp; giám định y khoa để xếp hạng thương tật, điều trị và phục hồi chức năng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm:
a) Quản lý thống nhất việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật về an toàn lao động, vệ sinh lao động;
b) Chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo các hoạt động về an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm đưa nội dung an toàn lao động, vệ sinh lao động vào chương trình giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học.
5. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với điều kiện làm việc đối với người lao động làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao.
6. Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng các loại phí, lệ phí liên quan đến hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động và huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động.
7. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động.
8. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động trong phạm vi địa phương; xây dựng các mục tiêu bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 26. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.
2. Nghị định số 195/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Nghị định số 06/CP ngày 20 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động; Nghị định số 109/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 195/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Nghị định số 110/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động; Điều 2 Nghị định số 81/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội và Nghị định số 109/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 195/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
3. Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động quy định tại Nghị định này được áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến từng đối tượng này có quy định khác.
Điều 27. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
comments | | Xem tiếp...

Vệ sinh an toàn lao động trong công ty

Các điều khoản của Nội quy này là quy định bắt buộc thực hiện. Các công nhân viên vi phạm điều khoản của Nội quy này đều bị xử lý nghiêm khắc theo quy định pháp luật Lao động Việt nam và Quy định khen thưởng kỷ luật của Công ty.
Vệ sinh an toàn lao động trong công ty
I. MỤC ĐÍCH:
-        Đảm bảo An toàn cho sức khỏe của Cán bộ – Công nhân viên Công ty.

-        Đảm bảo an toàn cho tài sản trang thiết bị nhà xưởng của Công ty.

II. PHM VI:
    Nội quy về An toàn Lao động và Vệ sinh Lao động được lập theo Quy định của Công ty và chế độ hiện hành của Nhà nước.
    Nội quy định việc thực hiện công tác về An toàn lao động, Vệ sinh Lao động và quy trình vận hành cho các loại máy móc thiết bị đang được sử dụng trong Công ty.
    Từ công nhân viên (CNV) ở đây dùng để chỉ những người làm việc và có hưởng quyền lợi, nghĩa vụ trong Công ty.
    Từ An toàn viên (ATV) ở đây dùng để chỉ những người làm việc trong mạng lưới An toàn Lao động và Vệ sinh Lao động của Công ty.

III. NỘI DUNG:

CHƯƠNG I: TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG TY
    Tổng Giám Đốc Công ty chịu trách nhiệm triển khai việc kiểm tra, đôn đốc công nhân viên thực hiện các quy định về An toàn Lao động và Vệ sinh Lao động của nội quy này.

-        Ra quyết định kỷ luật công nhân viên vi phạm.

-        Tổ chức việc kiểm tra định kỳ.

    Ban Trật tự Vệ sinh, An toàn lao động và Quản lý thiết bị nhà xưởng (gọi tắt là Ban TTAT-TBNX) chịu trách nhiệm triển khai huấn luyện công nhân viên về quy định An toàn Lao động và Vệ sinh Lao động, quy trình vận hành thiết bị mà công nhân viên được sử dụng.
    Trạm y tế có trách nhiệm tổ chức việc điều tra tai nạn lao động tại Công ty báo cáo cho Phòng Tổ chức Hành chánh và Ban Tổng Giám đốc Công ty.
    Trạm y tế lập báo cáo tình hình tai nạn lao động, các loại bệnh sáu tháng một lần gửi cho các Cơ quan Nhà nước quản lý có thẩm quyền.

CHƯƠNG II: TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG NHÂN VIÊN TRONG CÔNG TY
    Mọi Cán bộ - Công nhân viên đều có trách nhiệm nghiêm chỉnh chấp hành nội quy này.

    Các An toàn viên Công ty có trách nhiệm triển khai các hoạt động về mặt An toàn Lao động và Vệ sinh Lao động theo chỉ thị của Tổng Giám Đốc Công ty và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình.

CHƯƠNG III: QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
    Công nhân viên được trang bị bảo hộ lao động và các dụng cụ được cung cấp trong thời gian làm việc. CBCNV phải sử dụng đúng mục đích và đủ các trang bị đã được cung cấp

    Trong thời gian làm việc CBCNV không được đi lại nơi không thuộc phạm vi của mình.

    Khi có sự cố hoặc nghi ngờ thiết bị có sự cố có thể xảy ra thì CBCNV phải báo ngay cho Tổ trưởng để xử lý.

    Nếu không được phân công thì CBCNV không được tự ý sử dụng và sửa chữa thiết bị.

    Khi chưa được huấn luyện về quy tắc an toàn và vận hành thiết bị thì không được sử dụng hoặc sửa chữa thiết bị.

    Các sản phẩm, hàng hóa vật tư, thành phẩm đóng gói, để cách tường 0.5 mét, cách xa cửa thoát nạn, cầu dao điện, phương tiện chữa cháy, tủ thuốc cấp cứu.

    Khi sửa chữa máy phải ngắt công tắc điện và có đặt biển báo mới được sửa chữa.

    Khi chuẩn bị vận hành máy hoặc sau khi sửa chữa xong phải kiểm tra lại dụng cụ, chi tiết có nằm trên máy không và không có người đứng trong vòng nguy hiểm mới cho máy vận hành.

    Không được để dầu, mỡ, nhớt máy rơi vãi trên sàn xưởng, nơi làm việc.

    Trong kho phải sắp xếp ngăn nắp gọn gàng, không để dụng cụ, dây điện, vật tư, trang thiết bị gây trở ngại đi lại.

    Khi xảy ra sự cố tai nạn lao động, những người có mặt tại hiện trường phải:

-         Tắt công tắc điện cho ngừng máy.

-         Khẩn trương sơ cứu nạn nhân, báo cáo ngay cho nhân viên phụ trách An toàn và Y tế của Công ty.

-         Tham gia bảo vệ hiện trường để người có trách nhiệm xử lý.

    Công nhân viên có nghĩa vụ báo cáo cho Đại diện lãnh đạo An toàn và Sức khỏe về sự cố tai nạn lao động, về việc vi phạm nguyên tắc An toàn Lao động xảy ra tại Công ty.

    Khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn tại nơi làm việc của mình, công nhân viên lập tức rời khỏi khu vực nguy hiểm và báo ngay cho An toàn viên để xử lý.

    Không được tháo dỡ hoặc làm giảm hiệu quả các thiết bị An toàn Lao động có trong Công ty.

    Công nhân viên phải thực hiện theo sự chỉ dẫn của bảng cấm, bảng hướng dẫn An toàn nơi sản xuất.


CHƯƠNG IV: QUY ĐỊNH VỀ VỆ SINH LAO ĐỘNG
    Trong giờ làm việc, công nhân viên phải sử dụng đầy đủ trang bị bảo hộ lao động, phương tiện dụng cụ đã được Công ty cấp phát trong thời gian làm việc.
    Toàn thể công nhân viên phải giữ gìn vệ sinh sạch sẽ và gọn gàng nơi làm việc của mình gồm:

-         Vệ sinh công nghiệp chung toàn Công ty.

-         Các thiết bị do mình phụ trách phải được kiểm tra định kỳ do Công ty qui định.

    Công nhân viên phải giữ gìn sạch sẽ và nhắc mọi người giữ sạch sẽ nơi làm việc, ăn uống và nơi vệ sinh công cộng.
    Công nhân viên phải tham gia chương trình chống dịch bệnh và khám sức khỏe định kỳ hàng năm do Công ty tổ chức.
    Công ty chỉ cho phép công nhân viên vào công ty làm việc với trạng thái cơ thể tâm lý bình thường. Tổ trưởng có thể buộc công nhân viên ngừng việc khi phát hiện công nhân viên có sử dụng chất kích thích như ma túy, rượu, bia v.v...
    Những công nhân viên vận hành máy móc thiết bị khi cơ thể tâm lý bình thường. Trong khi làm việc hoặc vận hành máy, nếu công nhân viên cảm thấy cơ thể không bình thường có thể dẫn đến tai nạn lao động thì phải ngưng việc ngay và báo cho Tổ trưởng giải quyết kịp thời.
    Công nhân viên phải báo cáo với Trạm Y tế Công ty về bệnh của mình (đặc biệt là bệnh truyền nhiễm, dễ lây) để được chữa kịp thời. Công nhân viên nghiện ma túy phải đi trung tâm cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.
    Công nhân viên sử dụng máy dập nút, máy cắt bắt buộc phải sử dụng găng tay; sử dụng dụng cụ tẩy bắt buộc phải sử dụng khẩu trang, kính, công nhân ủi bắt buộc phải đứng chân trên miếng cách điện, công nhân may bắt buộc phải sử dụng khẩu trang.
    Công nhân viên phải báo cáo với những người có trách nhiệm và Trạm Y tế Công ty mọi trường hợp vi phạm nguyên tắc Vệ sinh lao động tại Công ty.

CHƯƠNG V: QUYĐỊNH AN TOÀN VỀ ĐIỆN
    Chỉ những CBCNV đã được huấn luyện về kỹ thuật và kỹ thuật an toàn về điện mới được sửa chữa, lắp đặt, đóng mở thiết bị điện.
    Khi làm việc và sữa chữa, phải sử dụng đúng dụng cụ và mang đủ trang thiết bị bảo hộ.
    Không được cắt điện ở cầu dao tổng, bố trí điện nếu chưa được sự cho phép.
    Không được dùng các vật liệu có tham số kỹ thuật khác thiết kế để thay thế khi sửa chữa.
    Khi sửa điện, cần ngắt điện ở cầu dao tổng, phải có biển báo (cấm móc điện, đang sửa chữa) hoặc có người trực ở cầu dao tổng.
    Tổ cơ điện kiểm tra an toàn hệ thống điện định kỳ hàng tuần vào ngày thứ bảy. Việc kiểm tra phải được lập bằng biên bản.

CHƯƠNG VI: QUY ĐỊNH VỀ VIỆC SỬ DỤNG THIẾT BỊ, MÁY MÓC
1. Qui định chung:
    Công nhân phải được huấn luyện thuần thục về vận hành và an toàn khi đứng máy mới được sử dụng máy.
    Khi làm việc phải sử dụng đầy đủ các phương tiện bảo hộ lao động theo quy định của từng Bộ phận đã được trang bị.
    Trình tự vận hành máy phải tuân thủ nghiêm ngặt, động tác thực hiện phải chính xác.
    Kiểm tra vệ sinh máy trước khi vận hành.
    Những người không có trách nhiệm tuyệt đối không được vận hành và sửa máy.
    Mọi máy móc phải có hướng dẫn vận hành máy.
    Đối với các thiết bị áp lực phải có giấy phép sử dụng mới được sử dụng.
    Không được sửa chữa các thiết bị áp lực, khi thiết bị vẫn còn áp lực.
    Không được để các hóa chất dễ gây cháy gần các thiết bị áp lực trong lúc hoạt động.
    Khi ra về, công nhân phải tắt hết máy do mình sử dụng, Trưởng bộ phận trực tiếp có trách nhiệm hướng dẫn nhân viên, công nhân của mình thực hiện theo quy định này, mọi trường hợp không tắt máy Trưởng bộ phận trực tiếp chịu trách nhiệm cao nhất.

2.  Hướng dẫn vận hành thiết bị:
Thực hiện theo hướng dẫn vận hành thiết bị của Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 đang thực hiện tại Công ty.

CHƯƠNG VII: QUI ĐỊNH VỀ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY
    PCCC là nghĩa vụ của toàn thể CBCNV kể cả khách hàng đến làm việc tại Công ty.

    Để đảm bảo an toàn tài sản, tính mạng của CBCNV trong Công ty, Công ty nghiêm cấm:

-         Cấm sử dụng lửa, củi đun nấu, hút thuốc trong kho, nơi sản xuất và nơi cấm lửa.

-         Cấm câu móc, sử dụng điện tùy tiện.

-         Cấm dùng dây điện cắm trực tiếp vào ổ cắm.

-         Cấm dùng dây đồng, dây bạc thay cầu chì.

-         Cấm để các chất dễ cháy gần cầu chì, táp lô điện và đường dây dẫn điện.

-         Cấm dùng khoá mở nắp phuy xăng bằng thép.

    Khi hết giờ làm việc, các Xí nghiệp, Phòng phải kiểm tra tắt hết đèn, quạt, bếp điện trước khi ra về và bảo vệ kiểm tra 2 lần giao ca sổ sách.
    Sắp xếp vật tư, hàng hóa trong kho phải gọn gàng, sạch sẽ. Xếp riêng từng loại có khoảng cách ngăn cháy (0.5 mét cách tường) để tiện việc kiểm tra hàng và chữa cháy khi cần thiết.
    Khi xuất hàng, xe không được mở máy trong kho, nơi sản xuất và không được hút thuốc lá, khi xe đậu phải hướng đầu xe ra ngoài.
    Không để các chướng ngại vật trên lối đi lại.
    Phương tiện chữa cháy không được sử dụng vào việc khác và phải để nơi dễ thấy, dễ lấy để chữa cháy.
    Ai thực hiện tốt nội quy này sẽ được khen thưởng, ai vi phạm tùy theo mức độ sẽ bị xử lý từ cảnh cáo đến truy tố trước pháp luật (áp dụng Luật PCCC).

TIÊU LỆNH CHỮA CHÁY
-         Khi xảy ra phải báo động gấp (hệ thống PCCC tự động).

-         Cúp cầu dao điện nơi xảy ra cháy.

-         Dùng bình CO2 + bột nước, máy bơm và vòi rồng cứu hỏa để dập tắt đám cháy.

-         Gọi điện cho đội Cảnh sát PCCC gần nhất.

CHƯƠNG VIII: QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG, BẢO QUẢN HÓA CHẤT
    Mọi hóa chất đều phải được lưu giữ, bảo quản trong một khu vực riêng, đánh dấu rõ ràng.
    Mọi hóa chất phải có bảng hướng dẫn sử dụng an toàn (MSDS) được treo tại khu vực để, sử dụng hoá chất. Trưởng Bộ phận có sử dụng hóa chất phải truyền đạt huấn luyện cách bảo quản, sử dụng cho hóa chất được sử dụng.
    Khu vực để hoá chất phải an toàn và được kiểm tra, bình đựng hóa chất phải được đóng lại cẩn thận trước khi ra về.

CHƯƠNG IX: QUY ĐỊNH VỀ THOÁT HIỂM, ỨNG PHÓ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
    Các sự cố có thể xảy ra bao gồm: sự cố cháy nổ, sự cố do ngộ độc thức ăn, các sự cố bất ngờ như đổ tường, đổ nhà xưởng, lật mái nhà xưởng v.v...
    Khi xảy ra sự cố, Ban TTAT – TBNX, Đội viên Đội PCCC, Trưởng Bộ phận hướng dẫn lối thoát hiểm gần nhất và hướng dẫn cho CBCNV bình tĩnh chạy theo các lối thoát hiểm đó.
    Nguyên tắc thoát hiểm: Mọi Cán bộ công nhân viên phải thật bình tĩnh để tìm ra đường thoát hiểm và theo các hướng dẫn thoát hiểm gần và an toàn nhất, không được tranh nhau chạy dẫn đến tắc đường đi.
    Xác định người bị nạn (nếu có):

-        Mọi CBCNV phải chạy ra sân của Công ty (gần khu văn phòng và nhà bảo vệ), các công nhân cùng tổ phải đứng gần nhau, công nhân của các tổ không được đứng lẫn lộn.

-        Tổ trưởng và/hoặc tổ phó có trách nhiệm hướng dẫn cho nhân viên mình đứng trong một khu vực nhất định.

-        Tổ trưởng và/hoặc tổ phó có trách nhiệm đếm số nhân viên của mình, phát hiện ra người không có mặt tại nơi quy định, nhanh chóng báo ngay cho bộ phận cứu nạn tên của người vắng mặt.

CHƯƠNG X: ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
    Công ty thành lập Ban Trật tự vệ sinh, An toàn Lao động và Quản lý thiết bị nhà xưởng.
    Ban TTAT-TBNX có quyền giám sát sự hoạt động của các công nhân viên tại Công ty về mặt An toàn Lao động và Vệ sinh Lao động.
    Huấn luyện cho công nhân viên và thực hiện nội dung khác về An toàn Vệ sinh Lao động.
    Ban TTAT-TBNX có trách nhiệm lập dự thảo bổ sung, sửa đổi Nội quy An toàn và Vệ sinh Lao động trình Tổng Giám Đốc phê duyệt trong trường hợp:

-         Công ty có sự thay đổi về hoạt động dẫn tới nội quy có điều khoản không phù hợp.

-         Công ty có sự thay đổi về môi trường sản xuất, thay đổi máy, chi tiết máy có liên quan.

-         Khi pháp luật lao động yêu cầu.

    Các điều khoản của Nội quy này là quy định bắt buộc thực hiện. Các công nhân viên vi phạm điều khoản của Nội quy này đều bị xử lý nghiêm khắc theo quy định pháp luật Lao động Việt nam và Quy định khen thưởng kỷ luật của Công ty.
    Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày ký. Những quy định trước đây của Công ty về An toàn và Vệ sinh Lao động có nội dung trái với những quy định trong nội quy này đều được bãi bỏ.
    Nội quy này được phổ biến trong toàn Công ty để mọi công nhân viên được biết và có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định nội quy Công ty đề ra.
comments | | Xem tiếp...

20% dân số sống không hợp vệ sinh

Một trong những nguyên nhân quan trọng làm các bệnh dịch này vẫn lưu hành chính là do các cơ quan chức năng chưa làm tốt công tác quản lý và xử lý môi trường sống đảm bảo an toàn vệ sinh. 20% dân số nước ta có điều kiện sống không đảm bảo vệ sinh, là thống kê mới nhất mà Bộ Y tế vừa công bố.
Không dừng lại ở đó, theo Tổ chức Unicef, cứ 4 người dân Việt Nam lại có 1 người có điều kiện sống không hợp vệ sinh, chiếm 26,2%. Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều tại khu vực nông thôn. Điều này đã và đang gây tác hại nghiêm trọng đến tình trạng sức khỏe người dân, nhất là trẻ em.

Phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế, cho biết, tại Việt Nam, hiện nay một số bệnh dịch nguy hiểm lây truyền theo đường tiêu hóa mà nguyên nhân là do người dân tiếp xúc phải nguồn nước bẩn vẫn chưa được khống chế một cách triệt để. Thậm chí, những bệnh dịch nguy hiểm như tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn, đặc biệt là bệnh tay - chân - miệng còn có nguy cơ bùng phát bất kỳ lúc nào. Điều đáng lo ngại là tỷ lệ người bệnh bị tử vong luôn ở mức cao trong thời gian gần đây.

Một trong những nguyên nhân quan trọng làm các bệnh dịch này vẫn lưu hành chính là do các cơ quan chức năng chưa làm tốt công tác quản lý và xử lý môi trường sống đảm bảo an toàn vệ sinh. Trong đó, đáng kể nhất là chưa thực hiện hiệu quả mục tiêu toàn dân phải xây dựng và sử dụng nhà vệ sinh đạt chuẩn.

Trên thực tế, chỉ đơn thuần nếu tất cả các gia đình đều có nhà vệ sinh đạt chuẩn thì có thể giảm tỷ lệ trẻ em bị nhẹ cân xuống 1% - 10% và tỷ lệ trẻ em bị thấp còi sẽ giảm 4% - 16%. Việc người dân không sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đã và đang gây ra nhiều bệnh lây nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Nhiều chuyên gia cũng đã nhận định, sở dĩ còn tồn tại những tình trạng trên là do chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn. Chẳng hạn như hiểu biết về vệ sinh và sức khỏe của người dân ở nông thôn còn thấp. Phần lớn người dân cho rằng nhà vệ sinh đạt chuẩn chỉ là tiện nghi cuộc sống chứ không phải là một vấn đề công cộng có liên quan đến sức khỏe của cộng đồng và sự trong sạch của môi trường. Tổ chức của lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn còn phân tán, sự phối hợp giữa các bộ, ngành chưa tốt.

Bên cạnh đó, Nhà nước chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người dân sử dụng xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh. Về pháp chế, còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Có thể thấy rằng, để giải được bài toán vệ sinh môi trường ở nông thôn, bên cạnh sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, các địa phương cần phải đẩy mạnh công tác xã hội hóa, phát huy nội lực, nâng cao ý thức của người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường sống. Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường gắn với Chương trình Xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Ngoài ra, cần phải có sự chung tay của nhiều tổ chức, thành phần kinh tế trong xã hội mới mang lại hiệu quả thực sự.
comments | | Xem tiếp...

Cần chế tài mạnh hơn với các đơn vị vi phạm vệ sinh an toàn lao động

Cần một chế tài mạnh mẽ hơn để doanh nghiệp thực sự quan tâm đến công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động.

Công trường xây dựng là nơi có thể xảy ra tai nạn lao động bất cứ lúc nào nếu không thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo an toàn
Do đặc thù lao động thời vụ chiếm phần lớn nên cả người sử dụng lao động và người lao động chưa làm tốt công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động.

Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng Phú Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột có 200 lao động nhưng chỉ có 49 người đã ký hợp đồng, còn lại là lao động thời vụ.

Theo ông Trương Công Lưu, Giám đốc công ty, đây chính là yếu tố khiến cho việc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn lao động chưa nghiêm túc ở các công trường xây dựng của công ty: “Công nhân được sử dụng là những lao động mang tính thời vụ. Bởi vậy việc huấn luyện an toàn lao động không kịp thời. Thậm chí với nhiều người họ không muốn ký hợp đồng vì sợ ràng buộc. Đây là một thực tế nói chung, có nhiều nơi, người lao động không đem nặng an toàn lao động, trang bị mũ nhưng chưa chắc họ đã đội vì cho rằng vướng víu và nóng”.

Mỗi năm, công ty xây dựng Phú Xuân trang bị 100 bộ đồng phục, mũ nhựa, giày vải, khẩu trang, ủng. Nhưng đến thực tế công trường xây dựng trên đường Y Jút, thành phố Buôn Ma Thuột thì chỉ người quản lý có đồ bảo hộ lao động, còn lại phần lớn công nhân đội mũ vải, đi dép lê, thậm chí có công nhân đang làm việc ở độ cao hơn 20m mà không có dây bảo hộ. Người lao động cũng không quan tâm mình có được tập huấn, phố biến kiến thức về công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động – phòng chống cháy nổ hay không.

Không chỉ công ty xây dựng Phú Xuân mà nhiều ty xây dựng ở Đắc Lắc đều trong tình trạng này.

Theo thống kê của Sở Lao động – Thương binh – Xã hội Đắc Lắc, năm 2012 đã xảy ra 16 vụ tai nạn lao động, làm 4 người chết và 6 người bị thương nặng; riêng trong lĩnh vực xây dựng thì xảy ra một vụ làm một người chết. Tuy nhiên, theo cán bộ của Sở này thì con số này không phản ánh chính xác tình hình thực tế, bởi chỉ có 10 công ty trong hàng trăm công ty xây dựng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh gửi báo cáo về cho đơn vị tổng hợp.

Cùng với việc chưa làm tốt công tác đảm bảo an toàn lao động, các doanh nghiệp cũng chưa coi trọng đến việc khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp hàng năm cho người lao động.

Bác sĩ Y Kim Ly Niê, Phó chánh thanh tra Sở y tế Đắc Lắc cho biết: “Một số đơn vị chưa thực hiện đầy đủ về việc khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Có nhiều nguyên nhân, một số người lao động thì không chú trọng đến việc khám sức khỏe của mình, một số đơn vị cũng chưa phối hợp với cơ quan y tế để khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Đối với những đơn vị đó thì chúng tôi kiến nghị cần phối hợp với cơ quan y tế trên địa bàn để chăm sóc sức khỏe cho người lao động.

Hàng năm, ngành chức năng tỉnh Đắc Lắc đều tổ chức các đoàn đi kiểm tra công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động – phòng chống cháy nổ. Nhưng đối với những đơn vị vi phạm, cũng mới chỉ nhắc nhở, đề nghị doanh nghiệp có biện pháp khắc phục. Gần như chưa có doanh nghiệp nào bị phạt khi không thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo an toàn cho người lao động.

Theo ông Nguyễn Quang Trường, Giám đốc Sở Lao động – Thương binh – Xã hội Đắc Lắc thì đây chính là nguyên nhân khiến doanh nghiệp chưa nghiêm túc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh lao động.

Ông Nguyễn Quang Trường cho biết: “Có kiểm tra, nhắc nhở nhưng chế tài phạt rất ít. Tôi nghĩ cần có chế tài mạnh mẽ hơn, ràng buộc chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm”.

Cần một chế tài mạnh mẽ hơn để doanh nghiệp thực sự quan tâm đến công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động. Đồng thời, ngành chức năng của Đắc Lắc cũng cần đa dạng hóa các hình thức tuyên tuyền để người lao động có ý thức tự bảo vệ mình và yêu cầu doanh nghiệp thực hiện các biện pháp bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho bản thân mình./.
comments | | Xem tiếp...

Cách vệ sinh mũ bảo hiểm

Bạn hãy để mũ bảo hiểm ở những nơi khô thoáng để tránh nấm mốc sinh sôi, và dùng khăn khô lau sạch hằng ngày

Với việc sử dụng xe máy ở việc nam ngày nay, việc ra đường với chiếc mũ bảo hiểm được coi như là vật bất ly thân của những người đi xe máy vì an toàn giao thông và tuân thủ luật tham gia giao thông . Vì vậy, việc sử dụng vệ sinh mũ bảo hiểm thường xuyên là rất quan trọng đối người sử dụng mũ nón bảo hiểm  với mái tóc và da đầu. Chúng tôi sẽ giúp bạn một số mẹo vệ sinh mũ bảo hiểm:

1. Phơi nắng là cách vừa hiệu quả mà tiết kiệm lại nhanh chóng . Sau khi phơi xong, mũ bảo hiểm khô ráo và ánh nắng mặt trời còn có tác dụng diệt khuẩn rất tốt lại nhanh.
Cách vệ sinh mũ bảo hiểm
2. Hiện nay ngoài thị trường có bán nhiều loại miếng dùng để lót mũ bảo hiểm, mỗi lần vệ sinh mũ nón bảo hiểm rất đơn giản, bạn chỉ việc tháo những miếng lót mũ nón bảo hiểm  ra, sau đó ngâm vào dung dich oxy già khoảng 15 phút, sau đó giặt sạch lại bằng nước rồi phơi khô. Bạn hãy thay và giặt miếng lót này thường xuyên để tránh bệnh nấm tóc có thể gây ngứa đầu và rụng tóc.

Còn nếu các bạn có việc ra ngoài gấp mũ bảo hiểm còn ẩm ước thì hãy dùng thêm một cái nón lưỡi trai để đội vào trong như thể đẻ chóng da đầu tiếp xúc trực tiếp với bề mặt ẩm ước của lót nón.

3. Bạn hãy để mũ bảo hiểm ở những nơi khô thoáng để tránh nấm mốc sinh sôi, và dùng khăn khô lau sạch hằng ngày hoặc sử dụng những sản phẩm chuyên dụng dùng để khử mùi và diệt khuẩn có bán ở các siêu thị để vệ sinh mũ bảo hiểm của bạn.
comments | | Xem tiếp...
Dịch vụ vệ sinh Hoàn Mỹ chuyên: Dịch vụ vệ sinh - Chuyển nhà trọn gói - Vệ sinh công nghiệp Uy tín - Tận tâm - Chuyên nghiệp.

Google+ Followers

 
Copy right by Nguyễn Nam Mỹ phẩm